GÓC NHÌN NGÂN HÀNG THẾ GIỚI, VIỆT NAM CẦN CẢI CÁCH QUYẾT LIỆT HƠN NỮA ĐỂ ĐÓN NHẬN CƠ HỘI TỪ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO GIỮA VIÊT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU

Trong quan hệ song phương ngày càng tốt đẹp, Liên minh châu Âu ( EU ) là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2019 của Việt Nam đạt hơn 56,4 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu trên 41,5 tỷ USD và nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD, Tại kỳ họp lần thứ 9, khóa XIV, Quốc hội nước CHXHCN Việt nam sẽ xem xét tờ trình của Chủ tịch nước để chính thức thông qua Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và liên minh châu Âu (EVFTA).

Phân tích quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, cuối tháng 4 năm 2020, nhóm Ngân hàng Thế giới (W.B) đã nhận định: “Chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã giúp Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình thấp và là một trong những quốc gia năng động nhất của khu vực Đông Á-Thái Bình Dương,…”

Sự phát triển của Việt Nam trong 35 năm qua rất đáng ghi nhận. Theo đó, Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trở thành quốc nước nhập trung bình thấp. Từ năm 2002 đến 2018, GDP bình quân đầu người đã tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD. Vào năm 2019, cả nước đã có hơn 45 triệu người thoát nghèo và tỉ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh, từ  trên 70% xuống còn dưới 6%.

Mặc dù có nhiều khó khăn, song nhờ nhu cầu trong nước gia tăng và sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn ở mức cao, trong năm 2019, kinh tế Việt Nam đã thể hiện khả năng chống chịu vữngvàng và tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng,đứng ở nhóm hàng đầu khu vực và trên thế giới

Theo W.B, từ hội nhập kinh tế sâu rộng, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng đáng kể của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, nhờ biện pháp đối phó chủ động,quyết liệt của các cấp, ở cả trung ương và địa phương, tác động bất lợi của dịch bệnh đã không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác; kinh tế vĩ mô và tài khóa của Viêt Nam vẫn giữ được sự ổn định với mức tăng trưởng GDP quý I/2020 đạt 3,8%. Tác động của khủng hoảng COVID-19 đang diễn ra khó dự đoán và còn phụ thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài của dịch bệnh. song, tăng trưởng kinh tế năm 2020 của Việt Nam được dự báo sẽ chỉ giảm xuống 3-4%, đâylà mức tăng trưởng lạc quan so với số đông các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm hoặc suy thoái.

Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số và xã hội. Từ khoảng 60 triệu người vào năm 1986, năm 2018 dân số Việt Nam đã lên 97 triệu và được dự báo sẽ lên 120 triệu người vào năm 2050. Hiện nay, trên 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung bình gần 76, cao hơn những nước có thu nhập tương đương ở khu vực. Trong cơ cấu dân cư, tầng lớp trung lưu đang hình thành và phát triển khá nhanh, hiện chiếm 13% dân số và dự báo sẽ lên 26% vào năm 2026. Chỉ số Vốn con người (HCI) hiện đứng xếp thứ 48 trên 157 quốc gia và vùng lãnh thổ và đứng thứ hai khu vực ASEAN, chỉ sau Sing-ga-po. Theo W.B, Chỉ số HCI của Việt Nam đạt cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách lớn giữa các địa phương, đặc biệt là ở nhóm dân tộc thiểu số. Việt Nam cũng cần nâng cao trình độ lực lượng lao động để tạo ra việc làm có năng suất cao hơn ở quy mô lớn trong tương lai (W.B 2020).

Giáo dục phổ thông ở Việt Nam tương đối tốt. Việt Nam đạt kết quả ấn tượng trong Chương trình đánh giá học sinh Quốc tế (PISA) năm 2012 và 2015, theo đó, thành tích của học sinh Việt Nam đã vượt xa so với một số nước trong OECD. Cùng với giáo dục, lĩnh vực y tế của Việt Nam cũng đạt tiến bộ đáng kể nhờ mức sống ngày càng cải thiện. Từ năm 1993 đến 2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 trên 1.000 trẻ sinh. Tuổi thọ trung bình đã nâng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong những năm  từ 1990 đến 2016. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân đạt 73, với 87% dân số có bảo hiểm y tế, cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, tỉ lệ giới tính khi sinh vẫn ở mức cao và ngày một gia tăng. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh, dự báo đến năm 2050, nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần.

Trong vòng 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản có nhiều thay đổi tích cực và khả năng tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể. Tính đến năm 2016, 99% dân số được sử dụng điện chiếu sáng, năm 1993 tỉ lệ này là 14%. Tỉ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, đã từ 17% năm 1993 lên 70% năm 2016, tỉ lệ này ở thành thị đạt trên 95%.

Tác động của các FTA thế hệ mới tới tăng trưởng kinh tế - xã hội ...

Mặc dù có những hành công, song tăng trưởng và công nghiệp hóa nhanh của Việt Nam  cũng để lại những hệ lụy tiêu cực đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào nhiên liệu hóa thạch, ngành năng lượng đã phát thải gần 2/3 tổng lượng phát thải khí nhà kính của cả nước. Nhu cầu sử dụng nước ngày một tăng cao, trong khi năng suất nước còn ở mức thấp, chỉ đạt 12% so với chuẩn thể giới.

Tình trạng khai thác thiếu bền vững tài nguyên thiên nhiên có thể ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng dài hạn. Bên cạnh đó, đa số người dân và nền kinh tế đều dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu.Đô thị hóa nhanh cùng với tăng trưởng kinh tế và dân số mạnh đã đặt ra những thách thức lớn về quản lý chất thải và xử lý ô nhiễm. Lượng rác thải được dự báo sẽ tăng gấp đôi trong 15 năm tới.

Theo ước tính, 90% lượng rác thải nhựa đại dương toàn cầu được thải ra từ 10 con sông lớn, trong đó có dòng Mê Kông. Việt Nam hiện là một trong mười quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi ô nhiễm không khí. Ô nhiễm nguồn nước đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với các ngành quan trọng và với sức khỏe người dân. Chính phủ đang nỗ lực giảm thiểu tác động của tăng trưởng lên môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu Các chiến lược và kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh và khai thác bền vững tài nguyên đã được Chính phủ tích cực thực hiện bằng các biện pháp giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc triển khai chương trình Quốc gia tự quyết định (NDCs).

Theo Ngân hàng Thế giới, với nền tảng cơ bản được đảm bảo và tình hình dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát, nhiều khả năng kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục mạnh trong năm 2021. Từ thực tế diễn ra trong đại dịch covid-19, nhóm Ngân hàng Thế gới cũng đã chỉ ra, Việt nam cần phải cải cách mạnh mẽ hơn để giúp kinh tế phục hồi trong trung hạn. Theo đó, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy kinh tế số, nâng cao hiệu quả đầu tư công là những nội dung chính Việt Nam cần cân nhắc để cải cách nhanh và mạnh mẽ hơn(W.B 2020).

Tác động của EVFTA đối với kinh té việt Nam và những việc cần làm từ góc nhìn W.B

Từ góc nhìn nghiên cứu, các nhà phân tích nhận thấy, cam kết mở cửa thị trường trong Hiệp định EVFTA sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ thương mại song phương, giúp Việt Nam mở rộng hơn nữa thị trường hàng xuất khẩu. Với cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu gần 100% biểu thuế và giá trị thương mại, cơ hội gia tăng xuất khẩu cho những mặt hàng lợi thế của Viêt Nam như dệt may, da giày, nông thủy sản .đồ gỗ, v.v. là rất đáng kể. Cho đến nay, mức cam kết trong EVFTA có thể là mức cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã ký kết. Điều này càng có ý nghĩa khi mới có 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).

Đại diện EU lạc quan về EVFTA, kêu gọi VN có thêm 'tín hiệu tích ...

Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cho rằng, Hiệp định EVFTA có thể gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU từ 20% năm 2020 lên 42,7% năm 2025 và trên 44,37% trong năm 2030. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng với nhịp độ 15,28%; 33,06% và 36,7% trong cùng thời gian. Cùng với tăng trưởng thương mại, EVFTA sẽ góp phần làm gia tăng GDP của Việt ở mức bình quân từ 2,18%-3,25% trong những năm 2019-2023, từ 4,57% đến 5,30% trong giai đoạn 2024-2028 và trên 7% sau năm 2029

Nhưng cam kết về dịch vụ đầu tư, mua sắm chính phủ cũng như mở cửa thị trường và biện pháp kỹ thuật trong các lĩnh vực cụ thể sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của EU tiếp cận thuận lợi hơn đối với thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, những cam kết về quản trị nhà nước sẽ đảm bảo một môi trường kinh doanh và pháp lý ổn định, thông thoáng cho các nhà đầu tư của cả hai bên

Thông quan EVFTA nhà đầu tư EU cũng sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường các nước đã ký FTA với Việt Nam với những đối xử ưu đãi hơn. Theo đó, EVFTA sẽ góp phần vào thúc đẩy quan hệ giữa EU với từng nước và cả khối ASEAN, tạo tiền đề hướng tới việc thảo luận một Hiệp định FTA giữa EU và ASEAN trong tương lai.

Với chủ đề “Tăng cường hội nhập quốc tế và thực thi Hiệp định EVFTA",ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại Hà Nội, nhóm Ngân hàng Thế giới ở Viêt Nam đã chính thức công bố báo cáo thể hiện quan điểm chính thức về vấn đề này. Theo đó, W.B nhấn mạnh, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực thực thi để gặt hái đầy đủ lợi ích của Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA).

Báo cáo ước tính, việc tận dụng các ưu đãi thuế quan theo hiệp định EVFTA có thể giúp GDP của Viêt Nam gia tăng 2,4% cùng với tổng giá trị xuất khẩu tăng thêm 12% và có thể tăng thêm từ 100 nghìn đến 800 nghìn người thoát nghèo vào năm 2030. Đây là những lợi ích cần thiết để duy trì thành quả kinh tế tích cực trong lúc quốc gia phải ứng phó với đại dịch COVID-19. Theo W.B, lợi ích từ việc tham gia hiệp định thương mại thế hệ mới như EVFTA và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ còn lớn hơn nữa nếu Việt Nam thực hiện nghị trình cải cách kinh tế và thể chế toàn diện nhằm tuân thủ  những điều khoản không liên quan đến thuế quan trong các hiệp định này.

Báo cáo  của Ngân hàng Thế giới ước tính tính những cải cách tạo ra "cú hích năng suất" sẽ giúp đưa GDP của Việt Nam  tăng thêm 6,8% so với kịch bản cơ sở vào năm 2030. Báo cáo cũng đã chỉ ra,Việt Nam cần nâng cao năng lực thực thi 3 vấn đề chủ yếu, bao gồm:các quy tắc xuất xứ, các biện pháp vệ sinh dịch tễ cho cây trồng, vật nuôi và cơ chế xử lý tranh chấp giữa nhà nước với nhà đầu tư. Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Ousmane Dione, nhấn mạnh "Nếu hành động kiên quyết nhằm thu hẹp khoảng cách về năng lực triển khai và tính tương thích pháp lý, Việt Nam có thể tận dụng được tối đa hiệp định thương mại này,với những lợi ích trực tiếp ở mức lớn chưa từng có trong lịch sử," Theo ông “Với COVID-19 là nút khởi động lại và EVFTA là nút tăng tốc, thì đây là thời điểm hoàn hảo để theo đuổi những cải cách trong nước sâu rộng hơn."

Báo cáo của W.B cũng đã chỉ ra, yêu cầu về quy tắc xuất xứ là một trong những thách thức lớn mà Việt Nam cần phải vượt qua. Ngay cả khi sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam, các nhà nhập khẩu EU chưa chắc đã công nhận nguồn gốc, bởi sản phẩm của Việt Nam còn bị lệ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu. Trong nhiều ngành chế tạo và chế biến chủ chốt của Việt Nam, phần lớn đầu vào vẫn nhập khẩu từ các quốc gia khác. Thực tế nhiều năm còn cho thấy có tới 62% giá trị đầu vào trong lĩnh vực điện tử và 53% trong lĩnh vực ô-tô phụ thuộc vào những nhà sản xuất ngoài nước. Từ đây. W.B đã khuyến cáo cần phải tăng cường hơn nữa những nỗ lực nhằm cải thiện liên kết giữa các đơn vị cung ứng trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài là những đơn vị đầu đàn trong các chuỗi giá trị lớn toàn cầu. 

Từ tầm nhìn toàn cầu, W.B nhận thấy, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm nghiêm ngặt của châu Âu trong thực thi EVFTA đòi hỏi Việt Nam phải cải thiện các biện pháp về vệ sinh dịch tễ một cách minh bạch và nhất quán hơn nữa. Theo ước tính, chi phí tuân thủ đầy đủ các biện pháp phi thuế quan hiện hành của Việt Nam còn khá cao, có mức thuế suất tương đương 16,6%, cao gấp trên 3 lần so với bình quân của khu vực là 5,4%.

Với việc EVFTA được phê chuẩn, Việt Nam sẽ là điểm đến hấp dẫn nhiều nhà đầu tư từ châu Âu và trên toàn thế giới. Khi dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, số lượng đơn thư khiếu nại thương mại cũng sẽ tăng theo. Ngân hàng Thế giới khuyến cáo, đẩy nhanh hơn nữa việc hình thành cơ chế xử lý khiếu nại đầu tư một cách hệ thống nhằm xử lý tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư.

Nhằm tối đa hóa lợi ích của EVFTA, báo cáo của W.B  nhấn mạnh, chính sách hỗ trợ khôi phục kinh tế Việt Nam sau COVID-19 cần hướng mạnh  vào ưu tiên các ngành hàng chủ chốt chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường châu Âu.

Tài liệu tham khảo

W.B (2020)     Tổng Quan về Viêt Nam     https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview   27tháng 4

Ngân hàng Thế giới (2020)  Cải cách quyết liệt để nhận đầyđủ lợi ích từ Hiệp địnhThương mại với EU

Thông cáo báo chí,Hà Nội ngày 19 tháng 5