LONG TRỌNG LỄ GIỖ LẦN THỨ 153 CỦA CỤ PHAN THANH GIẢN
Sáng ngày 23 – 8, Đại diện một số cơ quan tỉnh Vĩnh Long, Ban Quản lý di tích cấp quốc gia Văn Thánh Miếu, con cháu Phan tộc ở TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vĩnh Long, TP. Cần Thơ cùng đông đảo nhân dân trong tỉnh đã dự lễ giỗ. Lễ giỗ được tổ chức theo các nghi thức cổ truyền, gồm: Lễ cúng tiên thường, chính giỗ và lễ cúng hậu thường; lễ dâng hương, hoa, phẩm vật… để kính cẩn tưởng nhớ một nhà nho yêu nước, nhà thơ, một nhà văn, một học giả uyên bác của Nam Bộ.
Phan Thanh Giản tên chữ là Tinh Bá, và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn, tức Tây Lịch 1796. Tổ tiên là người Trung Hoa, đến cuối đời Minh mới sang Việt Nam, trước ở làng Hội Trung, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, đến đời thân sinh ông thì gia đình mới thiên cư vào Nam ở làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh về sau đổi ra làng Bảo Thạnh, tổng Bảo Trị, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, và sau này làng Bảo Thạnh lại thuộc quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Cha ông là Phan Thanh Ngạn, một viên chức nhỏ, dòng dõi nho gia thanh bần. Mồ côi mẹ năm lên bảy tuổi, Phan Thanh Giản được ông ngoại đem về nuôi và dạy dỗ. Năm sau hai em của ông, một trai một gái, bệnh không tiền thuốc men, lần lượt đi theo mẹ. Ông bà ngoại quyết định gởi Giản cho nhà sư Nguyễn Văn Noa ở chùa Phú Ngãi.
Năm 1815, lúc Phan Thanh Giản lên mười chín tuổi, cha bị bắt vì tội hết sức vu vơ, có ý muốn ăn hối lộ. Hơn ai hết, Phan Thanh Giản hiểu cha mình. Ông sống thanh liêm, thương kẻ nghèo khó khốn cùng. Vì thế Phan Thanh Giản xách khăn gói lên tỉnh Vĩnh Long nơi cha bị tù để săn sóc cha và xin làm mọi công việc phục dịch của một người tù. Tối về, Phan Thanh Giản chong đèn học đến khuya.
Quan lương hiệp trấn ở Vĩnh Long thấy nhân cách và trí thông minh của Phan Thanh Giản, bèn gửi Phan Thanh Giản cho đốc học Võ Trường Nhơn, một thầy giáo có uy tín lớn cả vùng Vĩnh Long. Đây là năm 1816, Phan Thanh Giản vừa đúng hai mươi tuổi.
Tên tuổi người con trai nghèo khó, hiếu thảo, ham học và sáng dạ truyền khắp tỉnh Vĩnh Long. Bà quả phụ Nguyễn thị Ân giàu có và thương người hiền đức, nhận ông làm con nuôi và đài thọ tổn phí ăn học.
Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đậu đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam bộ.
Từ đấy, ông làm quan trải ba triều, là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.
Sự nghiệp của Phan Thanh Giản rất đáng để người đời sau nể phục và kính trọng. Về văn chương, ông là một nhà thơ, một nhà văn, một học giả uyên bác, để lại nhiều tác phẩm giá trị. Toàn bộ tác phẩm của ông được ghi lại trong bộ sách “Lương Khê thi văn thảo” do chính ông cùng các con sưu tầm, biên tập và khắc in. Bộ sách gồm hai phần: Phần Một là phần Thi Thảo - gồm 18 quyển với gần 500 bài thơ Đường luật, ngũ ngôn, tư, vịnh; Phần Hai là phần Văn Thảo gồm biểu, sớ, ký, sự, thuyết, luy, thư, luận, biện. . .; tất cả 39 bài trong 3 quyển. Ngoài ra còn có Phần Phụ gồm Thi Thảo Bổ Di với 20 bài vịnh, và Văn Thảo Bổ Di với 4 bài. Với tài năng của mình, ông được vua Tự Đức giao làm Tổng tài Quốc sử quán coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, phụ tá có một Phó Tổng tài, 6 Toản tu góp tài liệu, viết lên, 6 Khảo hiệu xét lại và 6 Đằng tả viết chữ ngay ngắn. Sách soạn trong 3 năm 1856-1859, dâng lên Tự Đức coi lại các lần 1871, 1872, 1876, 1878.
Về chính trị, nếu lấy chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” làm triết lý căn bản, thì sự nghiệp của Phan Thanh Giản phải được đánh giá thật cao. Năm 1828, nhân có bão lụt ở Huế, ông đã dâng sớ tâu xin “Thánh Thượng tự sửa mình làm điều nhân đức và giảm số cung nữ phi tần. . . như thế . . . bách tính sẽ được sung sướng.” Với tính cương trực, và với lòng thương dân cao độ, ông đã nhiều lần can gián vua bớt những xa xỉ, phí tổn, bớt gánh nặng trút lên đầu dân nghèo. Có lần bị giáng chức, bị quở phạt, Phan Thanh Giản cũng không nhụt chí. Trong một tờ sớ dâng vua Minh Mạng, ông viết “Vua ngự thì ngàn xe, muôn ngựa, quan quân hầu hạ, nhứt thiết vì tiêu dùng của vua. Những việc sửa đắp đường sá, dọn dẹp cung điện, sáp củi đốt cho quan quân, cắt cỏ lót cho ngựa, voi, tất nhiên phải bắt dân phu với lính, như thế dân phải bỏ việc tư, lo việc công. Hạ thần là kẻ giữ đất chăn dân, đội đức vua, không làm được cho dân hạnh phúc thật là có tội”.
Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng rồi lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn.
Hiệp ước gồm 12 khoản, theo đó, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn (Côn Đảo) phải nhượng cho Pháp (Khoản 3 Hiệp ước); triều đình phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha một khoản bồi thường chiến phí là 4 triệu piastre trong 10 năm, mỗi năm 400.000 đồng (quy ra bạc là 288 nghìn lạng-Khoản 8 hiệp ước); đổi lại, người Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế, nhưng kèm theo điều kiện là triều đình phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 hiệp ước). Do hành động này mà dân gian có câu truyền "Phan Lâm mãi quốc, triều đình thí dân" (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước; triều đình bỏ dân chúng). Theo nhà sử học Phan Huy Lê, nguồn gốc và xuất xứ của câu này chưa được làm rõ, theo ông câu này không thấy ghi chép lại trong những tác phẩm viết về Trương Định của những tác giả đương thời, như Nguyễn Thông
Tuy việc thương nghị với phía Pháp, vua Tự Đức có cho ông tùy nghi tình thế mà định đoạt nhưng về việc cắt đất, nhà vua có căn dặn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc lại ba tỉnh với giá 1.300 vạn lạng, còn nếu phía Pháp đòi cắt đất luôn thì kiên quyết không nghe, nhưng Phan Thanh Giản đã đồng ý cả việc cắt đất lẫn việc bồi thường chiến phí. Do đó mà hai ông khi trở về đã bị quở trách nặng nề.
Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng rồi lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863), nhưng cũng không đạt được kết quả. Năm 1865, ông được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu.
Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, cho rằng không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn.
Sau khi thành mất, Phan Thanh Giản gói mũ áo, phẩm hàm, kèm theo sớ tạ tội và gửi về triều. Song chờ nửa tháng vẫn không thấy triều đình hồi âm. Lo lắng rồi thất vọng, Phan Thanh Giản uống thuốc phiện hòa với giấm thanh tự sát và qua đời vào nửa đêm ngày 5/7 năm Đinh Mão, tức 4/8/1867, hưởng thọ 72 tuổi.
Soái phủ Pháp là Pierre-Paul de La Grandière sai đưa linh cữu ông với đoàn binh hộ tống về Bảo Thạnh an táng. Mộ ông rất khiêm nhường, đề bảy chữ Nho: Lương Khê Phan lão nông chi mộ, giao cho Phan Đôn Hậu và Phan Đôn Khải chăm nom.
Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, Bến Tre. Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang vẫn coi ông là một vị thần Thành Hoàng. Ngoài ra ông còn được thờ tại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long.
Lễ giỗ Phan Thanh Giản là hoạt động có ý nghĩa góp phần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, thương dân cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Vĩnh Long thể hiện sự tri ân công lao to lớn củ